Mon. Mar 4th, 2024


Ngay từ những năm 1920, các nhà tâm lý học đã bắt đầu cố gắng giúp đỡ và phát triển trẻ em thông qua các thí nghiệm và đưa ra hướng dẫn về giáo dục. Những thí nghiệm này sử dụng bối cảnh tình huống cụ thể để xác định phản ứng thực sự của trẻ, đồng thời phân tích động cơ và lý do đằng sau phản ứng và hành vi của trẻ. Thông qua các thí nghiệm, chúng ta có thể hiểu tâm lý trẻ em, đồng thời đưa ra hỗ trợ khoa học cho việc giáo dục và có thể gây ảnh hưởng sâu sắc đến việc học tập của trẻ.

1. Thí nghiệm kẹo dẻo

4 thí nghiệm tâm lý đỉnh cao này đã ảnh hưởng đến ngành giáo dục hàng trăm năm, nhất là thí nghiệm thứ 3- Ảnh 1.

Trong những năm 1960 và 1970, nhà tâm lý học Walter Mischel của Đại học Stanford đã tuyển hơn 600 trẻ em 4 tuổi tham gia thí nghiệm. Các em được vào một căn phòng nơi đặt một chiếc kẹo dẻo. Các nhà nghiên cứu nói với đứa trẻ rằng nó có việc phải làm và phải rời đi một lúc, nếu đứa trẻ không ăn kẹo dẻo khi quay lại thì nó sẽ nhận được thêm một viên kẹo dẻo làm phần thưởng, nếu ăn thì sẽ không có gì. Kết quả là 2/3 số trẻ đã ăn kẹo dẻo trước.

14 năm sau, các nhân viên đã tiến hành một cuộc khảo sát tiếp theo với một phần ba số trẻ không ăn kẹo dẻo trong thí nghiệm và phát hiện ra rằng những đứa trẻ có thể cưỡng lại sự cám dỗ của kẹo dẻo có khả năng tập trung và lý luận tốt hơn những đứa trẻ khác.

Thí nghiệm cho thấy điều gì? Không thể phủ nhận khả năng tự chủ của trẻ rất quan trọng. Khi trẻ biết giữ lời hứa, dù hứa làm những việc nhỏ nhất thì trẻ sẽ sẵn sàng làm chủ bản thân hơn.

2. Thí nghiệm Little Albert

4 thí nghiệm tâm lý đỉnh cao này đã ảnh hưởng đến ngành giáo dục hàng trăm năm, nhất là thí nghiệm thứ 3- Ảnh 2.

Có rất nhiều thí nghiệm trong tâm lý học về nguyên nhân và cách vượt qua nỗi sợ hãi, trong đó nổi tiếng nhất là “Thí nghiệm Little Albert”.

Năm 1920, Watson, một nhân vật quan trọng trong mảng tâm lý học hành vi sơ khai, và các trợ lý của ông đã tiến hành một thí nghiệm nổi tiếng trong lịch sử tâm lý học. Thí nghiệm cho thấy phản ứng có điều kiện đối với nỗi sợ hãi đã phát triển như thế nào ở một cậu bé tên Albert.

Khi Albert mới 9 tháng tuổi, một con chuột bạch được đặt bên cạnh cậu, lúc đầu cậu không hề sợ hãi chút nào. Tuy nhiên, khi có người dùng búa đập vào thanh ray thép phía sau đầu và gây ra một tiếng động lớn, cậu bé rùng mình né tránh, tỏ ra sợ hãi. 2 tháng sau, các nhân viên bắt đầu thử nghiệm lại. Khi con chuột bạch được đặt trước mặt Albert, cậu vẫn không hề sợ và còn bắt tay nó. Ngay khi tay Albert chạm vào con chuột, lại có một tiếng đập mạnh vào lan can sau đầu khiến cậu giật mình, ngã về phía trước và vùi mặt vào.

Sau khi tiến hành thêm một số thí nghiệm nữa, Albert thực sự đã phát triển một phản ứng sợ hãi có điều kiện đối với chuột. Các thí nghiệm sâu hơn cho thấy cậu bé cũng phát triển nỗi sợ hãi về những thứ có lông khác như thỏ, chó, áo khoác lông và búp bê nhồi bông.

Watson tin rằng chỉ cần chúng ta tìm ra mối liên hệ giữa những sự vật khác nhau và sau đó củng cố chúng dựa trên nguyên tắc phản xạ có điều kiện để thiết lập mối quan hệ bền chặt giữa kích thích và phản ứng. Qua đó chúng ta có thể dự đoán, kiểm soát và thay đổi hành vi của con người.

Hãy tưởng tượng trong một tình huống trong cuộc sống hàng ngày, nếu cha mẹ phản ứng thái quá với một điều bình thường như cách con xử lý công việc hàng ngày, đối mặt với những khó khăn nhỏ nhặt,… thì theo thời gian, chúng cũng sẽ bị ảnh hưởng.

3. Hiệu ứng Rosenthal (thí nghiệm “vịt con xấu xí”)

4 thí nghiệm tâm lý đỉnh cao này đã ảnh hưởng đến ngành giáo dục hàng trăm năm, nhất là thí nghiệm thứ 3- Ảnh 3.

Thí nghiệm Rosenthal là thí nghiệm nổi tiếng nhất trong lịch sử tâm lý học về tác động của kỳ vọng và sự tự tin đối với con người.

Một ngày năm 1968, nhà tâm lý học người Mỹ Rosenthal và các trợ lý của ông đến một trường tiểu học và nói rằng họ sẽ tiến hành 7 thí nghiệm. Họ chọn 18 từ khối 1 đến 6 và tiến hành “Bài kiểm tra xu hướng phát triển trong tương lai” đối với học sinh ở 18 lớp này. Sau đó, Rosenthal giao danh sách “ứng cử viên có triển vọng nhất” cho hiệu trưởng và các giáo viên có liên quan với giọng tán thành, đồng thời yêu cầu họ giữ bí mật để không ảnh hưởng đến tính chính xác của thí nghiệm.

Trên thực tế, Rosenthal đã nói một “lời nói dối có căn cứ” vì các học sinh trong danh sách được chọn ngẫu nhiên. 8 tháng sau, Rosenthal và các trợ lý kiểm tra lại học sinh của 18 lớp đó và điều kỳ diệu đã xảy ra: tất cả những học sinh có tên trong danh sách đều có điểm số tiến bộ vượt bậc, tính cách sôi nổi, vui vẻ và tự tin, có đầu óc, ham học hỏi và sẵn sàng giao tiếp với người khác hơn.

Nhà tâm lý học nổi tiếng Jess Lehr nhận xét: “Lời khen ngợi giống như ánh nắng sưởi ấm tâm hồn con người. Không có nó, chúng ta không thể trưởng thành và nở hoa. Nhưng hầu hết chúng ta đều nhanh chóng tránh né những lời nhận xét mỉa mai khác. Và chính chúng ta lại ngần ngại trao đi tia nắng ấm áp của khen ngợi người khác”. Đối với trẻ, những lời khen ngợi và sự kỳ vọng chân thành của cha mẹ, thầy cô có thể trở thành động lực không ngừng để trẻ nỗ lực phấn đấu.

4. Hiệu ứng Zeigarnik

4 thí nghiệm tâm lý đỉnh cao này đã ảnh hưởng đến ngành giáo dục hàng trăm năm, nhất là thí nghiệm thứ 3- Ảnh 4.

Con người có xu hướng tự nhiên phải hoàn thành một hành vi nhất định, chẳng hạn như hoàn thành một trò chơi, đọc sách, học ngôn ngữ,…. Đây được gọi là “căng thẳng tâm lý”. Hệ thống “căng thẳng tâm lý” của một người là cơ chế tâm lý tạo ra “hiệu ứng Zeigarnik”.

Nhà tâm lý học người Nga Bruma Zeigarnik đã tiến hành một thí nghiệm khéo léo. Bà giao một loạt bài tập cho 128 em như đọc tiểu thuyết, làm tượng đất sét, làm các bài toán số học, xem tranh và viết luận,… Bà lại tiếp tục yêu cầu các em hoàn thành một số bài tập về nhà khác khiến các em phải dừng lại khi đang làm nhiệm vụ trước. Vài giờ sau, Zeigarnik yêu cầu các em nhớ lại chi tiết bài tập đã làm, người ta thấy rằng 110 em có thể nhớ rõ ràng những bài tập chưa làm xong nhưng lại có ấn tượng mơ hồ hoặc thậm chí không nhớ gì về bài tập đã hoàn thành.

Nếu dùng ví dụ dễ hiểu để mô tả thì đó là: trước kỳ thi tuyển sinh đại học, chúng ta ai cũng là một “thạc sĩ hàn lâm” thông thạo đủ các môn nhưng vài ngày sau kỳ thi, chúng ta lại trở thành “kẻ mù chữ”.

“Căng thẳng tâm lý” có thể giữ con người ở trạng thái “căng thẳng vừa phải” để duy trì thái độ tích cực. Sau khi hiểu được hiệu ứng Zeigarnik, cha mẹ và con cái có thể sử dụng nó một cách sáng tạo để nuôi dưỡng “sự căng thẳng tâm lý” linh hoạt của con mình. Nhưng đừng theo đuổi sự hoàn hảo, kẻo căng thẳng quá mạnh và tạo ra những tác động tiêu cực. Đối với những trẻ bị “căng thẳng tâm lý” quá mức, cha mẹ và giáo viên có thể chuyển hướng sự chú ý của trẻ một cách thích hợp để trẻ có thể thư giãn, không cần theo đuổi sự hoàn hảo.

Vẫn còn nhiều bí mật đối với sự trưởng thành của trẻ em, và những vấn đề, hiện tượng được các thí nghiệm tâm lý nêu trên tiết lộ chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Tuy nhiên, dựa vào đó mà phụ huynh và giáo viên có thể ứng dụng, tìm ra cách tốt hơn để giáo dục con mình một cách tốt nhất.

Tổng hợp


Theo Chi Chi

By Admin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *